Sunday, July 12, 2015

Nghi thức cúng vong(cô hồn).



Hãy cố gắng làm càng sớm càng tốt vì họ đang rất đau khổ và rất cần sự giúp đở.
Nếu như trong nhà có những hiện tượng gì lạ hay ngủ nằm mơ thấy cái này cái nọ…
Nếu đã quá 49 ngày mà họ chưa đi thì rất có thể sẽ bị đọa làm ngạ quỷ, rất khổ sở, thấy cơm mà không ăn được, giống như là nhìn thấy lửa vậy (như chuyện Mục Kiền Kiền Liên và bà Thanh Đề).
Khoảng 4,5 giờ chiều, nên làm một mâm cơm cúng họ, nhớ đừng có đốt giấy vàng mả nha.
Có khi ngạ quỷ vì nghiệp lực nặng quá nên không thể ăn được, lúc này bạn hãy thành tâm mà tụng các bài chú sau:
1:Biến thực chơn ngôn
Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lồ chỉ đế,án tam bạt ra tam bạt ra hồng
(tụng 7 biến,lấy ngón tay búng 7 lần vào chén cơm)
2:Biến thủy chơn ngôn
Nam mô tô rô bà gia,đát tha nga đa da,đát điệt tha.Án tô rô tô rô,bạt ra tô rô,bạt ra tô rô ta bà ha.
(tụng 3 biến = 3 lần, phải tụng chú này thì ngạ quỷ mới uống nước được)
3:Phổ cúng dường chơn ngôn
Án nga nga nẳng,tam bà phạ,phiệt nhựt ra hồng
(tụng 3 biến hoặc 7 biến tùy ý, có bài chú này thì đồ ăn cùng thức uống sẽ biến ra thật nhiều, cho dù có hằng hà sa ngạ quỷ cũng đều được no đủ)
4:Thí vô giá thực
Án mục lực lăng ta bà ha.
(Tụng 7 biến,ngày xưa thầy có dạy VT như vậy nhưng không biết để làm gì)
Khi tụng chú biến thực thì mắt mình nhìn vào đồ ăn và tâm mình cũng nghĩ tưởng đến đồ ăn rất ngon.
Khi tụng chú biến thủy thì mắt nhìn nước, tâm nghĩ đây là nước uống rất ngon
Khi tụng chú phổ cúng dường thì thì hãy nghĩ tưởng đồ ăn và nước uống biến ra thật nhiều, đầy khắp cả hư không.
Trước tiên là chúng ta làm thực thí là bước đầu. Để cho họ bớt đói khát, rồi sau đó sẽ làm pháp thí tức là khuyên họ niệm Phật mà cầu sanh Tây Phương là điểm quan trọng nhất.
Bên cạnh đó mình hãy nên làm các việc công đức (như là phóng sanh,ấn tống kinh Địa Tạng…) để hồi hướng cho họ sớm được siêu thoát và mình cũng sẽ được công đức rất lớn vậy.
Nên cúng cơm cho người vừa mới mất trong vòng 49 ngày hay 100 ngày ?
Thông thường thì người ta hay cúng cơm cho người quá cố trong vòng 49 ngày hay 100 ngày hoặc lâu hơn nữa, đó là phong tục. Tại sao lại như thế? Một phần là bởi vì người còn sống nặng tình thương nhớ, muốn người mất được no đủ. Người mất có về ăn cơm cúng không? Nếu đã vãng sanh rồi hoặc sanh về cõi trời hay đọa địa ngục thì không về đâu nhưng nếu người mất đang ở trạng thái thân trung ấm ( trong vòng 49 ngày ), quá 49 ngày mà chưa đi đầu thai thì có lẻ sẽ trở thành ngạ quỷ. Chính vì thế nên biết là chuyện cúng cơm là phần phụ còn chuyện cầu siêu mới là phần chính. Nếu ngày nào cũng cúng cơm rồi than khóc với vong linh sẽ làm vong linh sanh lòng luyến ái, không nở rời xa nên không thể siêu thoát. Nói như thế không phải là VT khuyên không nên cúng cơm vì có thực mới vực được đạo, nếu để người ta đói khát thì họ sẽ sanh tâm buồn tủi, sân hận… thì khó mà khuyên họ niệm Phật cầu sanh Tây Phương được. Chính vì thế sau khi hương linh đã thọ dụng no đủ, vui vẻ rồi thì mình khuyên họ nên xả bỏ vạn duyên, chí tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương mới là điều quan trọng nhất.
Phải cúng trong 49 ngày, 100 ngày hay lâu hơn nữa? Nếu mà người mất đã siêu thoát rồi, vãng sanh rồi thì không cần phải cúng nữa nhưng mình đâu biết khi nào người mất được siêu thoát. Lở như họ chưa siêu thoát mà mình không cúng nữa thì họ bị đói khát hay sao? Còn nếu như họ đã siêu thoát rồi mà mình cúng nữa thì cũng tốt thôi, còn có các ngạ quỷ khác ăn, mình cũng được công đức bố thí ( thực thí ), cũng tốt vậy, biết đâu chừng trong số ấy lại có cửu huyền thất tổ của mình, rồi có các chư vị oan gia trái chủ của mình nữa, họ thấy mình cúng cho họ ăn thì họ sẽ cảm kích mình, từ đó sẽ có thiện cảm với mình, không có quấy nhiễu hay hù nhát, trả thù… xui khiến bị bệnh, bị đụng xe, tai nạn hay nhập vào thân mình…đây gọi là ” lấy ân trả oán thì oán sẽ tiêu mòn ” vậy.
Đa phần thì người mất sau 49 ngày đều đi đầu thai cả cho nên mới có phong tục cúng cơm trong vòng 49 ngày. Tuy nhiên nếu bạn cúng thêm tới 100 ngày hoặc lâu hơn hay mỗi ngày mỗi cúng cũng đều tốt cả và nên khấn nguyện mời cả các chư vị oan gia trái chủ, chư vong linh ở vùng lân cận về dùng vì một bát cơm có thể thí cho hằng hà sa ngạ quỷ đều được no đủ.
Phật dạy pháp thí thắng mọi thí. Vì thế, sau khi họ dùng cơm xong, nên khuyên họ niệm Phật cầu sanh Tây Phương mới là điều quan trọng nhất. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,ADELAIDE.12/7/2015.

  NGHI THỨC QUÁ ĐƯỜNG.

 
Nghi thức quá đường còn gọi là nghi thức thọ trai thường được thực hành ở chùa như thông lệ hằng ngày, nhất là vào những ngày có Pháp hội. Tùy theo tông phái Thiền, Mật, Tịnh mà các chùa có nghi thức khác nhau. Tuy nhiên, sự khác biệt này không lớn. Trong phần trình bày này, chúng tôi xin tổng hợp đầy đủ tất cả nghi thức trên cơ sở kết hợp hai nghi thức thọ trai của Tịnh độ tông và Thiền tông đang được thực hiện ở nước ta. Phần có nội dung trong ngoặc đơn in đậm là những phần theo nghi thức Thiền tông. Hai nghi thức bằng âm Hán-Việt và thuần Việt cũng được trình bày đầy đủ.

A. KINH VĂN
(Đại chúng đứng xếp hàng tề chỉnh, nghe tiếng khánh, chắp tay đồng xá rồi ngồi xuống, nhiếp tâm cùng thầm đọc:)
I. ĐOAN TỌA (NGỒI THẲNG)
Chánh thân đoan tọa                                  Thân ngồi ngay thẳng
Đương nguyện chúng sanh                        Cầu cho chúng sanh
Tọa bồ-đề tòa                                               Ngồi tòa Bồ-đề
Tâm vô sở trước                                         Tâm không đắm nhiễm
Án, phạ tất ba ra a ni bát ra ni ấp đa da tóa ha. (3 lần)
II. TRIỂN BÁT (GIỞ BÁT)
Như Lai ứng lượng khí                                Bình bát của Như Lai
Ngã kim đắc phu triển                                Con nay được mở bày
Nguyện cúng nhất thiết chúng                   Cúng dường cho tất cả
Đẳng tam luân không tịch.                         Xin nguyện được an vui.
Án, tư ma ni tóa ha. (3 lần)
III. QUÁN KHÔNG BÁT (QUÁN BÁT TRỐNG)
Nhược kiến không bát                                Nếu thấy bát không
Đương nguyện chúng sanh                       Cầu cho chúng sanh
Cứu cánh thanh tịnh                                  Hoàn toàn trong sạch
Không vô phiền não.                                  Không có lo buồn

(Đổ nước vào bát, tráng sơ rồi lau khô, để cơm vào bát)

IV. THẠNH PHẠN MẶC NIỆM (MẶC NIỆM BÁT CƠM ĐẦY)
Nhược kiến mãn bát,                                  Khi thấy bát đầy
Đương nguyện chúng sanh,                      Cầu cho chúng sanh
Cụ túc thạnh mãn                                      Vui vẻ làm nên
Nhất thiết thiện pháp.                                Tất cả việc lành
(Tay trái co ngón giữa và ngón áp, còn ba ngón dựng thẳng để bát lên; tay mặt kiết ấn Cam lồ (ngón cái của tay phải đè lên ngón áp) để dựa ngang phía trong miệng bát, rồi đồng xướng bài cúng dường).
V. CÚNG DƯỜNG
- Thanh Tịnh Pháp thân Tỳ-lô-xá-na Phật (Phật Pháp thân thanh tịnh Tì-lô-xá-na)
- Viên mãn báo thân Lô-xá-na Phật (Phật Báo thân viên mãn báo thân Lô-xá-na)
- Thiên bá ức hóa thân Thích-ca Mâu-ni Phật (Phật Hóa thân ngàn muôn ức Thích-ca Mâu-ni)
- Đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật (Vị lai giáng sanh Phật Di-lặc Tôn)
- Đại Trí Văn-thù Sư-lợi bồ-tát (Bồ-tát Đại Trí Văn-thù Sư-lợi)
- Đại Hạnh Phổ Hiền bồ-tát (Bồ-tát Đại Hạnh Phổ Hiền)
- Đại bi Quán Thế Âm bồ-tát (Bồ-tát Đại bi Quán Thế Âm)
- Đại lực Đại Thế Chí  bồ-tát (Bồ-tát Đại lực Đại Thế Chí)
- Chư Tôn bồ-tát ma-ha-tát (Chư Bồ-tát lớn thường hộ pháp)
MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT (ĐẠI BÁT-NHÃ CỨU CÁNH)
Tam đức, lục vị Ba đức, sáu vị
Cúng Phật cập Tăng                                   Cúng Phật và Tăng
Pháp giới hữu tình                                      Cùng chúng hữu tình khắp pháp giới
Phổ đồng cúng dường                               Thảy đều cúng dường
Thọ thực chi thời                                        Nếu khi thọ thực
Thiền duyệt vi thực                                    Lấy vui thiền định làm thức ăn
Pháp hỉ sung mãn                                     Niềm vui nghe pháp được đầy đủ

(Đại chúng cúng dường rồi để bát xuống.
Chủ lễ để chén chung trong lòng bàn tay trái. Tay phải gắp 7 hạt cơm để vào chung, quyết ấn Cam lộ mặc niệm như sau):

VI. XUẤT SANH (Chủ lễ đọc)
Pháp lực bất tư nghị                                     Pháp lực chẳng nghĩ lường
Từ bi vô chướng ngại                                  Từ bi không chướng ngại
Thất liệp biến thập phương                          Bảy hạt khắp mười phương
Phổ thí châu sa giới.                                   Cho cả châu sa giới.
Án, độ lợi ích tóa ha. (3 lần)
BIẾN THỰC CHƠN NGÔN
Nam-mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng. (3 lần).
CAM LỘ THỦY CHƠN NGÔN
Nam-mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần)
Nhữ đẳng quỉ thần chúng                                     Tất cả chúng quỉ thần
Ngã kim thí nhữ cúng                                         Tôi nay nguyện cúng dường
Thử thực biến thập phương                             Cơm này biến mười phương
Nhất thiết quỉ thần cộng.                                   Quỉ thần đều no đủ.
Án, mục lục lăng ta bà ha. (3 lần)
(Khảy móng tay trên chén nhỏ 3 lần rồi đưa thị giả).

VII. TỐNG THỰC (Thị giả đọc)
Đại bàng kim sí điểu                                    Chim đại bàng cánh vàng
Khoáng dã quỉ thần chúng                          Chúng quỉ thần rừng núi
La-sát Quỉ tử mẫu                                       Mẹ con quỉ La-sát
Cam lộ tất sung mãn.                                 Tất cả đều no đủ.
Án, mục lục lăng ta bà ha. (7 lần)
VIII. XƯỚNG TĂNG BẠT (Duy-na xướng)
Phật chế Tì-kheo                                         Phật dạy Tì-kheo
Thực tồn ngũ quán                                    Giữ tròn năm quán
Tán tâm tạp thoại                                       Tâm loạn, nói tạp
Tín thí nan tiêu.                                          Tín thí khó tiêu
Đại chúng văn khánh thanh,                      Đại chúng nghe tiếng khánh,
các chánh niệm:                                        mỗi người nhất tâm niệm:
(Đại chúng cùng niệm)    NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT
ÁN, TAM BẠT RA DÀ DA. (7 lần)

(2 tay bưng bát ngang trán, thầm đọc:)
Chấp trì ứng khí,                                           Tay bưng bình bát (bát cơm)
Đương nguyện chúng sanh                         Cầu cho chúng sanh
Thành tựu pháp khí                                      Trọn nên pháp khí
Thọ thiên nhơn cúng.                                  Nhận trời, người cúng
Án, chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra. (3 lần)
IV. LƯU PHẠN KỆ CHÚ
(Để ít cơm ra chén, bưng chén cơm lên thầm đọc):
Dĩ kim sở tu phúc,                                         Nay đem phước tu này
Phổ triêm ư quỉ chúng                                Cho khắp các loài quỉ
Thực dĩ miễn cực khổ,                                Được ăn, khỏi cực khổ
Xả thân sinh lạc xứ                                     Bỏ thân, sanh nơi tốt
Bồ-tát chi phước báo                                  Phước báo của Bồ-tát
Vô tận nhược hư không                              Không cùng tựa hư không
Thí hoạch như thị quả                                Bố thí được kết quả
Tăng trưởng vô hưu tức.                           Lớn mãi mãi không ngừng.
Án, độ lợi ích tóa ha. (3 lần)

(Để chén xuống, ăn 3 muỗng cơm, mỗi muỗng đọc như sau: )

X. TAM ĐỀ, NGŨ QUÁN
- Muỗng thứ nhất: Nguyện đoạn nhất thiết ác (Nguyện dứt tất cả các điều ác).
- Muỗng thứ hai: Nguyện tu nhất thiết thiện (Nguyện làm tất cả các điều lành).
- Muỗng thứ ba: Nguyện độ nhất thiết chúng sanh (Nguyện độ tất cả chúng sanh).

(để đôi đũa gác ngang bát cơm, hoặc cắm muỗng giữa bình bát, niệm thầm như sau:)
1. Quán thức ăn từ đâu đem đến, công của người nhiều hay ít.
2. Quán công đức của mình đủ hay thiếu mà nhận thức ăn này.
3. Quán thức ăn này cốt để dẹp sạch tham sân si.
4. Quán thức ăn này như thuốc uống để trị bệnh ốm gầy.
5. Quán vì thành đạo nghiệp mới nhận thức ăn này.

(Để bát xuống, xá 1 xá rồi dùng cơm.
Dùng xong, nghe 1 tiếng chuông, đại chúng đổ nước vào tráng bát hoặc tụng bài kinh Bát nhã hoặc đọc bài Tẩy bát kệ chú:)
(XI. TỤNG BÁT-NHÃ)

XI. TẨY BÁT KỆ CHÚ
(Ăn cơm xong, đổ nước vào tráng bát, trút ra chén lại)
Dĩ thử tẩy bát thủy                                        Dùng nước này tráng bát
Như thiên cam lộ vị                                    Như vị cam lộ mát
Thí dữ chư quỉ thần                                    Thí cho các quỉ thần
Tất giai hoạch bão mãn.                             Thảy đều được no đủ.
Án, ma hưu ra tất tóa ha. (3 lần)
XII. THỦ DƯƠNG CHI KỆ CHÚ
(Tay cầm tăm xỉa răng)
Thủ chấp dương chi                                    Tay cầm tăm xỉa răng
Đương nguyện chúng sanh                        Cầu nguyện cho chúng sanh
Giai đắc diệu pháp                                      Đều đắc pháp nhiệm mầu
Cứu cánh thanh tịnh.                                  Rốt ráo được thanh tịnh
Án, tát ba phạ thuật đáp, tát lị ba đáp lị mô, tát ba phạ, thuật đáp phấn. Án lam tóa ha. (3 lần)

XIII. TƯỚC DƯƠNG CHI KỆ CHÚ
(Xỉa răng)
Tước dương chi thời                                     Khi đang xỉa răng
Đương nguyện chúng sanh                         Nguyện cho chúng sanh
Kỳ tâm điều tịnh                                          Tâm được thanh tịnh
Phệ chư phiền não.                                    Dứt hết phiền não
Án, a mộ dà di ma lê, nhĩ phạ ca ra, tăng du đà nể, bát đầu ma câu ma ra, nhĩ phạ ca ra tăng thâu đà da, đà ra dà ra, tố di ma lệ, tá phạ ha. (3 lần)
XIV. ẨM THỦY KỆ CHÚ
(Trước khi uống nước, đọc:)
Phật quán nhất bát thủy                               Phật thấy một bát nước
Bát vạn tứ thiên trùng                                  Có hơn tám muôn trùng
Nhược bất trì thử chú                                 Uống không niệm chú này
Như thực chúng sanh nhục.                       Như ăn thịt chúng sanh.
Án, phạ tất ba ra ma ni tóa ha. (3 lần)
XV. KIẾT TRAI KỆ CHÚ

Nam-mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ-đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiết lệ, chủ lệ chuẩn đề, ta bà ha. (7 lần)
Sở vị bố thí giả                                             Người phát tâm cúng dường
Tất hoạch kỳ lợi ích                                    Tất được nhiều lợi ích
Nhược vị nhạo bố thí                                  Nếu vui mừng bố thí
Hậu tất đắc an lạc                                      Về sau được an lạc
Phạn thực dĩ ngật                                      Dùng cơm đã xong
Đương nguyện chúng sanh                      Cầu cho chúng sanh
Sở tác giai biện                                         Mọi việc đều rõ
Cụ chư Phật pháp.                                   Đủ đầy Phật pháp
(XVI. PHỤC NGUYỆN (Duy-na xướng)
Cơm ngày hai bữa, thường nhớ công khó khổ của kẻ nông phu.
Thân mặc ba y, hằng xét nghĩ sự nhọc nhằn của người may dệt.
Thuốc thang giường chõng bởi do sự nhín ăn, bớt mặc của đàn-na.
Học đạo tiến tu nhờ lòng từ dạy răn của Thầy Tổ.
Nguyện cho thí chủ: ruộng phước thêm nhiều, đạo tâm thêm lớn, cùng chúng sanh khắp trong pháp giới, kẻ mất người còn đồng thành Phật đạo).
XVI. PHỤC NGUYỆN (Duy-na xướng)
Thân phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao.
Nhật thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ.
Phổ nguyện hiện tiền tứ chúng phước huệ song tu, một hậu đắc Di-đà thọ kí. Âm siêu dương thới, pháp giới chúng sanh tề thành Phật đạo.
Y áo trên thân, thường nhớ đến sự lao nhọc của người may dệt.
Ngày ăn ba bữa, đều nghĩ đến sự khổ cực của kẻ làm nông
Phổ nguyện: tứ chúng hiện tiền phước huệ tròn tu, về sau được Phật A-di-đà thọ kí. Nguyện cho kẻ âm được siêu sanh, người dương được an hòa,  chúng sanh khắp pháp giới đồng thành Phật đạo.
(Đại chúng đồng niệm:  NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT).
(XVII. VĂN PHÁT NGUYỆN
Đệ tử chúng con một lòng thành,
Nguyện cho đất nước mãi thanh bình,
Tai nạn đao binh đều dứt sạch
Huynh đệ nhìn nhau con một nhà
Xót thương cứu giúp tiêu thù hận
Cả trên thế giới thảy an lành,
Cùng chung nhân loại lòng yêu mến
Sớt cơm chia áo một tâm thành
Kết tình đồng loại như ruột thịt
Nguyện cả chúng sanh đến côn trùng
Cùng khởi lòng thương che chở thảy
Ai đành sát hại làm lợi mình
Mong sao toàn thể cùng vui sống
Nguyện mưa chánh pháp khắp quần sanh
Mọi người đều được ơn nhuần gội
Nhiệt não tiêu tan lòng thanh lương
Tam thừa thánh quả đều an trụ
Nguyện con dứt sạch mọi não phiền
Gắng tu chẳng chút sanh lười mỏi
Lập chí vững chắc như kim cương
Dù bao sóng gió không lay động
Thẳng bước tiến lên quả Vô sanh
Yêu ma quỉ mị không ngăn nổi
Chiếc gươm trí thuệ tay chẳng rời
Đơn đao đột nhập Vô thượng giác
Tam độc, bát phong không chướng ngăn
Chỉ một Chân như tam-muội ấn
Tiến thẳng vào trong nhà Pháp thân
Trên ngọn Diệu Phong rong tự tại
Xem xét mười phương chúng khổ đau
Khởi từ phương tiện tùy ứng hóa
Đưa chúng đồng lên bờ niết-bàn
Dù bao gian khổ lòng không nản
Công đức tu hành xin hướng về
Tất cả chúng sanh cùng mình được
Đồng nương chánh pháp tối thượng thừa
Lên ngôi chánh giác chứng Phật đạo.)

XVII. PHỔ NGUYỆN
Đàn-na tín cúng
Lợi lạc hiện tiền
Đầy đủ phước duyên
Chứng nên Phật quả
Đại chúng đồng niệm: NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT)
(Phần quá đường đến đây là xong. Nếu đi kinh hành, thầy Cả sẽ xướng tiếp:)
XVIII. NIỆM PHẬT
A-di-đà Phật thân sắc vàng
Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời
Mày trắng tỏa, Tu-di uyển chuyển
Mắt trong ngần, bốn biển long lanh
Ánh hào quang hóa vô số Phật
Vô số Bồ-tát hiện ở trong
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát
Qui mạng lễ A-di-đà Phật
Nơi phương Tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sanh
Cúi xin đức Từ Bi nhiếp thọ.
Nam-mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A-di-đà Phật.
Nam-mô A-di-đà Phật.

(Vừa niệm Phật vừa đi kinh hành, khi đứng lại, niệm tiếp:)

Nam-mô Đại bi Quán Thế Âm bồ-tát                (3 lần)
Nam-mô Đại Thế Chí bồ-tát                              (3 lần)
Nam-mô Địa Tạng Vương bồ-tát                       (3 lần)
Nam-mô Thanh Tịnh Đại hải chúng bồ-tát      (3 lần)

XIX. SÁM PHỔ HIỀN
Đệ tử chúng con
Tùy thuận tu tập
Mười điều nguyện lớn
Của đức Phổ Hiền:
Một là nguyện Phật thần thông
Chứng minh đệ tử thành công lâu dài
Hai là nguyện lạy Như Lai
Cầu cho già trẻ gái trai làm lành
Ba là nguyện phát chí thành
Cúng dường Tam Bảo, tứ sanh khỏi nàn
Bốn là nguyện dứt nghiệp oan
Vượt qua biển khổ ba đường thóat ra
Năm là nguyện học thiền-na
Xoay vần chánh pháp khắp nhà đặng nghe
Bảy là nguyện Phật chở che
Ở lâu dạy bảo người nghe tỏ lòng
Tám là nguyện bạn ở chung
Mấy lời Phật dạy học cùng với nhau
Chín là nguyện trước nhớ sau
Thuận theo thế tục dám đâu trái lời
Mười là nguyện khắp trong đời
Xoay mình lướt tới thẳng dời Lạc Bang
Tôn sư diễn nghĩa ít hàng
Cầu cho bá tánh Tây phương mau về.
XX. TAM QUI
Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh
Tin chắc đạo cả, phát lòng Vô thượng
Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh
Thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển
Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh
Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG.KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.AUSTRALIA,ADELAIDE.12/6/2015.